TP.HCM nghiên cứu bổ sung Vành đai 4,5 và Vành đai 5 vào quy hoạch giao thông liên vùng
TP.HCM nghiên cứu bổ sung Vành đai 4,5 dài khoảng 192km và Vành đai 5 dài 440-487km, tăng kết nối Đồng Nai, Tây Ninh, Lâm Đồng và các vùng lân cận. Thành phố cũng đề xuất kéo dài cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu, nâng cấp quốc lộ 51C, mở rộng không gian đô thị, logistics.
Sở Xây dựng TP.HCM vừa có văn bản gửi Sở Xây dựng Đồng Nai, Tây Ninh và Lâm Đồng để lấy ý kiến về phương án bổ sung một số tuyến giao thông đối ngoại vào Quy hoạch tổng thể TP.HCM thời kỳ 2025-2050, tầm nhìn 100 năm. Đây được xem là bước nghiên cứu nhằm hoàn thiện mạng lưới giao thông theo hướng tăng cường liên kết vùng, đáp ứng yêu cầu phát triển không gian đô thị, công nghiệp, dịch vụ và logistics trong dài hạn.
Theo Sở Xây dựng TP.HCM, việc nghiên cứu bổ sung các tuyến giao thông đối ngoại nhằm bảo đảm kết nối đồng bộ giữa TP.HCM với các địa phương trong vùng Đông Nam Bộ, đồng thời mở rộng liên kết với khu vực duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Các tuyến mới được nghiên cứu có tính chất liên vùng, kết nối nhiều đầu mối giao thông quan trọng, qua đó góp phần phân bổ lại lưu lượng phương tiện, giảm áp lực cho các tuyến hiện hữu và tạo thêm động lực phát triển kinh tế - xã hội.
Đáng chú ý, TP.HCM đề xuất nghiên cứu bổ sung Vành đai 4,5 và Vành đai 5. Nếu được hình thành, hai tuyến này sẽ tạo thêm các hành lang giao thông liên vùng, kết nối các khu vực đô thị, công nghiệp, cảng biển, cảng hàng không, trung tâm logistics và các cực tăng trưởng mới. Đây cũng là bước phát triển mạng lưới giao thông theo hướng nhiều tầng, trong đó các tuyến vành đai không chỉ đảm nhiệm chức năng giao thông mà còn góp phần định hình không gian phát triển mới của toàn vùng.

Sơ đồ minh họa hướng tuyến Vành đai 4,5 và Vành đai 5. (Ảnh: AI)
Theo phương án sơ bộ, Vành đai 4,5 có chiều dài khoảng 192km, đi qua TP.HCM, Đồng Nai và Tây Ninh. Tuyến được nghiên cứu trên cơ sở tận dụng và kết nối một số trục giao thông hiện hữu, trong đó có quốc lộ 56 và quốc lộ 56B.
Điểm đầu của tuyến dự kiến nằm tại nút giao giữa Vành đai 5 và cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu. Từ đây, tuyến đi theo quốc lộ 56, tiếp tục theo quốc lộ 56B và kết nối trở lại Vành đai 5 tại khu vực Gò Dầu, Tây Ninh.
Về quy mô, Vành đai 4,5 được đề xuất theo tiêu chuẩn đường trục chính đô thị tốc độ cao, với yêu cầu ít gián đoạn trong quá trình khai thác. Tuyến có tốc độ thiết kế khoảng 80-100km/h, quy mô dự kiến 8 làn xe, bề rộng khoảng 62-80m.
Việc hình thành Vành đai 4,5 được kỳ vọng tạo thêm một tuyến kết nối trung gian giữa các tuyến vành đai hiện hữu và các tuyến vành đai lớn hơn. Qua đó, phương tiện có thể lựa chọn nhiều hướng lưu thông thay vì tập trung vào một số trục chính, đồng thời tăng khả năng kết nối giữa các khu vực sản xuất, đô thị và đầu mối logistics.
Có quy mô và phạm vi kết nối lớn hơn, Vành đai 5 được định hướng trở thành một trục giao thông liên vùng, không chỉ kết nối TP.HCM với các tỉnh, thành Đông Nam Bộ mà còn mở rộng hướng liên kết về duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.
Theo phương án đề xuất, tuyến có quy mô đường cao tốc đô thị từ 6-8 làn xe, tốc độ thiết kế khoảng 100km/h. Tùy theo nhu cầu phát triển của từng địa phương, tuyến có thể kết hợp với đường song hành. Bề rộng dự kiến tối thiểu khoảng 74,5m.
Hướng tuyến được nghiên cứu bắt đầu từ nút giao đường 992 với quốc lộ 51, đi dọc quốc lộ 55 đến khu vực La Gi, Lâm Đồng. Sau đó, tuyến được nghiên cứu phóng mới, cắt qua quốc lộ 1 và tiếp tục phát triển về phía Tây Bắc.
Đối với Vành đai 5, TP.HCM đưa ra hai phương án hướng tuyến để các địa phương nghiên cứu, góp ý.
Phương án 1 dự kiến tuyến đi vòng tránh Vườn quốc gia Cát Tiên về phía Bắc, kết nối qua Đạ Tẻh, Đồng Xoài, Chơn Thành, Dầu Tiếng, Gò Dầu, Tân An và Cần Đước. Sau đó, tuyến tiếp tục theo trục ven biển phía Nam qua Cần Giờ, đi theo đường 992 và trở lại điểm đầu tại quốc lộ 51. Tổng chiều dài phương án này khoảng 487km.
Phương án 2 có hướng tuyến đi qua khu vực Vườn quốc gia Cát Tiên đến Đồng Xoài, sau đó kết nối Chơn Thành, Dầu Tiếng, Gò Dầu, Tân An và Cần Đước. Từ đây, tuyến tiếp tục theo trục ven biển phía Nam qua Cần Giờ và trở lại quốc lộ 51. Tổng chiều dài dự kiến khoảng 440km.
Như vậy, tùy thuộc phương án hướng tuyến Vành đai 5 được lựa chọn, tổng chiều dài của hai tuyến Vành đai 4,5 và Vành đai 5 dự kiến dao động từ khoảng 632-679km. Đây là mạng lưới có quy mô rất lớn, thể hiện định hướng mở rộng không gian giao thông của TP.HCM trong tầm nhìn dài hạn.
Bên cạnh hai tuyến vành đai mới, TP.HCM cũng nghiên cứu phương án kéo dài cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu về phía Bắc khoảng 30km. Mục tiêu là tăng khả năng kết nối giữa tuyến cao tốc này với Vành đai 4 và Vành đai 4,5.
Theo phương án đề xuất, tuyến được nghiên cứu từ quốc lộ 1 theo hướng Bắc, vượt sông Đồng Nai đến khu vực xã Thường Tân, sau đó kết nối với Vành đai 4 và Vành đai 4,5 trên địa bàn Bình Dương cũ.
Tuyến kéo dài dự kiến có quy mô 6 làn xe cao tốc đô thị, kết hợp đường song hành tùy theo nhu cầu phát triển của từng khu vực, với bề rộng khoảng 64m.
Nếu được triển khai, tuyến này sẽ tăng cường khả năng kết nối giữa mạng lưới cao tốc với các tuyến vành đai, tạo thêm phương án phân bổ dòng phương tiện và hỗ trợ kết nối giữa các khu vực phía Bắc, phía Đông của TP.HCM với hệ thống giao thông liên vùng.
Một nội dung đáng chú ý khác là TP.HCM đề xuất điều chỉnh quy hoạch quốc lộ 51C thành đường cao tốc đô thị quy mô 8 làn xe. Tuyến được kỳ vọng hình thành thêm một trục giao thông tốc độ cao, hạn chế phương tiện đi qua các khu vực trung tâm.
Theo phương án, tuyến kết nối từ Bến Lức - Long Thành tại cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu, đi đến quốc lộ 1 và giao với cao tốc Dầu Giây - Phan Thiết, với tổng chiều dài khoảng 70km.
Việc nâng cấp chức năng của tuyến được kỳ vọng tạo thêm một hành lang giao thông quan trọng, hỗ trợ kết nối giữa các tuyến cao tốc và khu vực đô thị, đồng thời góp phần phân bổ lưu lượng phương tiện trên mạng lưới hiện hữu.
Hiện TP.HCM có ba tuyến vành đai trong quy hoạch. Vành đai 2 dài khoảng 64km, nằm hoàn toàn trong địa giới thành phố và đang được triển khai các đoạn còn lại để khép kín.
Vành đai 3 dài hơn 76km, đi qua TP.HCM, Đồng Nai và Tây Ninh, đang được triển khai và dự kiến hoàn thành trong năm 2026. Trong khi đó, Vành đai 4 dài khoảng 207km, kết nối TP.HCM với Đồng Nai và Tây Ninh, đã được chấp thuận đầu tư và một số dự án thành phần đang được triển khai.
Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu bổ sung Vành đai 4,5 và Vành đai 5 cho thấy định hướng phát triển mạng lưới giao thông của TP.HCM đang được mở rộng theo nhiều tầng, nhiều cấp độ kết nối. Các tuyến không chỉ đáp ứng nhu cầu đi lại mà còn hướng tới phục vụ vận chuyển hàng hóa, phát triển công nghiệp, logistics và mở rộng không gian đô thị.
Khi được nghiên cứu, hoàn thiện và triển khai đồng bộ, mạng lưới này có thể tạo ra các hành lang giao thông mới, giúp phân bổ lại lưu lượng phương tiện, tăng khả năng kết nối giữa các đầu mối giao thông quan trọng như cảng biển, cảng hàng không, khu công nghiệp, trung tâm logistics và các đô thị.
Đặc biệt, việc tăng cường kết nối giữa TP.HCM với Đồng Nai, Tây Ninh, Lâm Đồng và các địa phương trong vùng có thể tạo điều kiện hình thành các chuỗi liên kết kinh tế, thúc đẩy lưu thông hàng hóa và mở rộng không gian phát triển ra ngoài khu vực đô thị trung tâm.
Để bảo đảm tính đồng bộ của quy hoạch, Sở Xây dựng TP.HCM đề nghị các địa phương liên quan rà soát các phương án hướng tuyến, đánh giá sự phù hợp với quy hoạch tỉnh, quy hoạch đô thị và nông thôn, quy hoạch chuyên ngành cũng như khả năng kết nối với hệ thống giao thông hiện hữu.
Các địa phương được đề nghị tập trung góp ý về vị trí, hướng tuyến, điểm đầu, điểm cuối và các vị trí kết nối giữa các tuyến giao thông. Đây là cơ sở để TP.HCM tiếp tục hoàn thiện phương án quy hoạch, hạn chế chồng lấn, bảo đảm khả năng kết nối và nâng cao hiệu quả khai thác mạng lưới trong tương lai.
Với quy mô hàng trăm kilomet và phạm vi kết nối qua nhiều địa phương, việc nghiên cứu Vành đai 4,5, Vành đai 5 cùng các tuyến giao thông bổ trợ cho thấy tầm nhìn dài hạn trong tổ chức không gian giao thông của TP.HCM. Nếu được các địa phương thống nhất, hoàn thiện về hướng tuyến và từng bước triển khai theo quy hoạch, hệ thống này sẽ tạo thêm dư địa phát triển đô thị, công nghiệp, dịch vụ và logistics, đồng thời góp phần củng cố vai trò đầu mối giao thông của TP.HCM trong vùng Đông Nam Bộ và mở rộng liên kết với Nam Trung Bộ, Tây Nguyên.