Đường sắt Việt Nam hướng tới làm chủ công nghệ cốt lõi
Các nhiệm vụ khoa học, phát triển công nghệ chiến lược đang được Bộ Xây dựng thúc đẩy nhằm từng bước hình thành năng lực nghiên cứu, sản xuất, bảo trì và nội địa hóa công nghệ trong lĩnh vực đường sắt tốc độ cao, đường sắt đô thị.
Xác định các mắt xích công nghệ cần làm chủ
Trong thời gian qua, song hành với tiến độ triển khai các dự án đường sắt quan trọng quốc gia, Bộ Xây dựng tập trung hoàn thiện thủ tục để phê duyệt các nhiệm vụ khoa học và phát triển công nghệ chiến lược cho lĩnh vực đường sắt.
Theo ông Lê Hoàng Anh - Phó Trưởng phòng phụ trách Phòng Khoa KHCN - Môi trường và Hợp tác quốc tế (Cục Đường sắt Việt Nam), thời gian qua Bộ Xây dựng đã rà soát, xây dựng danh mục nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược trong lĩnh vực đường sắt tốc độ cao và đường sắt đô thị, sau đó gửi Bộ KHCN thẩm định.
Danh mục tập trung vào nhiều khâu then chốt, gồm nghiên cứu công nghệ sản xuất ray, phụ kiện, bộ ghi đường sắt đô thị; ray, phụ kiện và kết cấu ray đường sắt tốc độ cao. Một nhóm nhiệm vụ khác nghiên cứu vật liệu, xử lý đất yếu và vùng chuyển tiếp công trình đường sắt tốc độ cao nhằm kiểm soát lún dài hạn, bảo đảm an toàn khai thác.
Ở lĩnh vực thông tin, tín hiệu, Bộ Xây dựng đề xuất nghiên cứu, phát triển mạng 5G dành cho đường sắt tốc độ cao và hệ thống liên khóa máy tính (CBI) phục vụ điều khiển chạy tàu đường sắt quốc gia, định hướng mở rộng cho đường sắt đô thị và đường sắt tốc độ cao.
Đối với phương tiện và hạ tầng nghiên cứu, các nhiệm vụ gồm thiết kế, chế tạo một số chi tiết, cụm chi tiết cốt lõi của phương tiện giao thông đường sắt để phục vụ nội địa hóa; nghiên cứu, chế tạo toa xe công vụ đạt cấp chống đạn cấp 2 theo tiêu chuẩn STANAG 4569; xây dựng hệ thống phòng thí nghiệm, thử nghiệm trọng điểm quốc gia về đường sắt.
Phấn đấu hình thành năng lực nghiên cứu, sản xuất, bảo trì và nội địa hóa công nghệ.
Ông Lê Văn Dương - Vụ trưởng Vụ KHCN, Môi trường và Vật liệu xây dựng (Bộ Xây dựng) cho biết, Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ Xây dựng những nhiệm vụ cụ thể về phát triển công nghệ chiến lược đường sắt, trọng tâm là từng bước làm chủ công nghệ xây dựng hạ tầng đường sắt tốc độ cao, đường sắt điện khí hóa, từ khảo sát, thiết kế, thi công đến sản xuất cấu kiện; đồng thời hình thành năng lực tự xây dựng, bảo trì, sửa chữa công trình.
Theo ông Lê Văn Dương, đây là những vấn đề mới, phức tạp, chuyên sâu, yêu cầu kỹ thuật cao và nhiều nội dung lần đầu được nghiên cứu, triển khai. Vì vậy, mục tiêu không chỉ là tiếp nhận công nghệ có sẵn mà phải tạo dựng khả năng tiếp nhận, vận hành, cải tiến và từng bước làm chủ công nghệ trong nước.
Gắn nghiên cứu với sản xuất và chuyển giao
Để biến kết quả nghiên cứu thành năng lực thực tế, doanh nghiệp được xác định là trung tâm nội địa hóa công nghệ. Mô hình “3 nhà” được đặt ra theo hướng Nhà nước điều phối, kiến tạo, đặt hàng; viện, trường nghiên cứu, đào tạo, xác thực công nghệ; doanh nghiệp triển khai sản xuất và công nghiệp hóa.
Theo ông Hoàng Năng Khang - Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Đường sắt Quốc gia Việt Nam (VNR), Bộ Xây dựng đã huy động các đơn vị nghiên cứu, đào tạo, doanh nghiệp, hội khoa học kỹ thuật và chuyên gia trong, ngoài ngành. Các đơn vị quốc phòng như: Viettel, Viện Công nghệ thuộc Tổng cục Công nghiệp quốc phòng cùng các doanh nghiệp tư nhân như Hòa Phát, THACO... đều sẵn sàng tham gia.
Doanh nghiệp được xác định là trung tâm nội địa hóa công nghệ đường sắt.
Tuy nhiên, ông Hoàng Năng Khang cho rằng, cần có hạ tầng kỹ thuật phù hợp để các sản phẩm nghiên cứu được đưa vào thực tiễn. Việc hình thành tổ hợp công nghiệp đường sắt với khu sản xuất, lắp ráp, trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm sẽ tạo điều kiện ứng dụng kết quả nghiên cứu và từng bước hình thành năng lực công nghiệp.
Cùng với nghiên cứu trong nước, chuyển giao công nghệ từ các dự án đường sắt lớn cũng được xác định là một điều kiện quan trọng. Ông Chu Văn Tuân - Phó Giám đốc Ban QLDA Đường sắt cho biết, Dự án đầu tư xây dựng đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng đang lập báo cáo nghiên cứu khả thi và chưa đưa nội dung chuyển giao công nghệ vào nghiên cứu.
Trong khi đó, các nghị quyết của Quốc hội về dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng và đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam yêu cầu nhà thầu ưu tiên sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ trong nước có khả năng sản xuất, cung cấp. Với gói thầu lựa chọn nhà thầu quốc tế, nhà thầu phải cam kết chuyển giao công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực cho đối tác Việt Nam.