Nghiên cứu lựa chọn cây xanh đô thị có khả năng giảm bụi mịn, cải thiện chất lượng không khí
Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm sẽ nghiên cứu, xây dựng danh mục cây xanh đô thị có khả năng giảm bụi mịn, hấp thụ khí thải và điều hòa vi khí hậu. Đây được kỳ vọng là cơ sở khoa học phục vụ phát triển không gian xanh, góp phần cải thiện chất lượng không khí, nhất là tại các đô thị lớn và khu vực có nguy cơ ô nhiễm cao.
Lựa chọn cây xanh từ yêu cầu kiểm soát ô nhiễm
Theo kế hoạch ban hành kèm Quyết định số 387/QĐ-LNKL ngày 19/10/2026 của Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, việc nghiên cứu cơ cấu cây trồng đô thị được xác định là một trong những nhiệm vụ nhằm triển khai các giải pháp khắc phục ô nhiễm, quản lý chất lượng môi trường không khí giai đoạn 2026–2030.
Trọng tâm là nghiên cứu, đánh giá khả năng giảm bụi mịn PM2.5, PM10, hấp thụ khí thải và điều hòa vi khí hậu của rừng, hệ thống cây xanh đô thị. Trên cơ sở đó, cơ quan chuyên môn sẽ xây dựng danh mục khuyến nghị các loài cây có đặc tính phù hợp, tán lá rộng, có khả năng hỗ trợ cải thiện môi trường không khí và thích ứng với điều kiện đô thị.
Nhiệm vụ này gắn với định hướng phát triển công viên, vành đai xanh, hành lang xanh và không gian công cộng, đặc biệt tại những khu vực có mật độ giao thông cao, nguy cơ ô nhiễm không khí lớn.
Theo phân công, Phòng Phát triển rừng chủ trì xây dựng chương trình trồng cây xanh và phát triển không gian công cộng xanh tại đô thị giai đoạn 2026–2030. Các nội dung gồm nghiên cứu cơ cấu cây trồng, xây dựng danh mục loài cây, xác định chỉ tiêu thực hiện và cơ chế huy động nguồn lực.
Báo cáo số 820/BC-BNNMT ngày 26/1 về tổng kết Đề án “Trồng một tỷ cây xanh giai đoạn 2021–2025” được xác định là nguồn dữ liệu phục vụ quá trình xây dựng chương trình. Các đơn vị thuộc Bộ Xây dựng, Sở Xây dựng, Sở Nông nghiệp và Môi trường cơ quan chuyên môn và chính quyền địa phương sẽ phối hợp triển khai theo chức năng, nhiệm vụ được giao.
Đáng chú ý, nhiệm vụ nghiên cứu, lượng hóa lợi ích của rừng và hệ thống cây xanh đối với chất lượng không khí được bố trí thực hiện trong giai đoạn 2027–2030, với sự tham gia của các viện nghiên cứu, trường đại học và địa phương. Kết quả nghiên cứu, hướng dẫn kỹ thuật sẽ được chuyển giao, phổ biến để phục vụ công tác quản lý và tổ chức trồng cây tại cơ sở.
Cây xanh phải gắn với hạ tầng giao thông và hiệu quả môi trường
Tại các đô thị lớn, giao thông đường bộ, hoạt động xây dựng và các nguồn phát thải khác tạo áp lực đáng kể lên chất lượng không khí. Vì vậy, phát triển cây xanh không chỉ nhằm tạo cảnh quan mà cần được xem xét như một giải pháp hỗ trợ quản lý môi trường đô thị.
Phát triển cây xanh đô thị cần gắn với mục tiêu cải thiện chất lượng không khí, bảo đảm an toàn giao thông và phù hợp với điều kiện hạ tầng. (Ảnh: MH)
Tuy nhiên, hiệu quả giảm bụi mịn của cây xanh phụ thuộc vào nhiều yếu tố như đặc điểm loài cây, cấu trúc tán lá, mật độ trồng, điều kiện khí tượng và cách bố trí trong không gian đô thị. Do đó, việc lựa chọn cây cần dựa trên cơ sở khoa học, kết quả đánh giá thực tế và điều kiện cụ thể của từng khu vực, tránh áp dụng một danh mục chung mà thiếu tính toán phù hợp.
Đối với các tuyến đường có lưu lượng phương tiện lớn, việc bố trí cây xanh cần được nghiên cứu đồng bộ với tổ chức giao thông, tầm nhìn của người điều khiển phương tiện, hệ thống chiếu sáng, biển báo, vỉa hè và công trình hạ tầng kỹ thuật. Cây trồng phải bảo đảm khả năng sinh trưởng, an toàn trong mùa mưa bão, hạn chế nguy cơ gãy đổ, đồng thời không cản trở hoạt động giao thông và công tác duy tu, bảo dưỡng đường phố.
Bên cạnh đó, cần đánh giá hiệu quả môi trường sau khi trồng bằng các chỉ số cụ thể, trong đó có nồng độ bụi PM2.5, PM10 tại những khu vực được lựa chọn. Việc theo dõi, so sánh dữ liệu trước và sau khi triển khai sẽ góp phần xác định mức độ đóng góp thực tế của cây xanh, qua đó nâng cao hiệu quả đầu tư và quản lý không gian xanh đô thị.
Kiểm soát nguồn phát thải từ đốt thực bì, cháy rừng
Song song với phát triển cây xanh, kế hoạch của Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm đặt ra yêu cầu kiểm soát hoạt động đốt sinh khối, đốt thực bì và giảm phát thải từ cháy rừng.
Các hướng dẫn kỹ thuật xử lý thực bì, vật liệu cháy sẽ được rà soát, hoàn thiện theo hướng hạn chế đốt ngoài trời, ưu tiên các biện pháp cơ giới, ủ phân và tận thu sinh khối khi phù hợp. Hoạt động đốt có kiểm soát cần được xem xét về điều kiện, thời điểm và quy trình thực hiện nhằm hạn chế phát thải, phòng ngừa cháy lan.
Đối với tình trạng đốt nương làm rẫy, đốt dọn thực bì sau khai thác, lực lượng chuyên môn sẽ phối hợp với chính quyền địa phương hướng dẫn, kiểm soát và vận động người dân thực hiện đúng quy định. Các hành vi vi phạm có nguy cơ gây cháy rừng, ô nhiễm không khí cần được phát hiện, theo dõi và kiến nghị xử lý theo pháp luật.
Để nâng cao năng lực giám sát, kế hoạch cũng đề cập việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo, công nghệ viễn thám và thiết bị bay không người lái để phát hiện điểm đốt ngoài trời, theo dõi cháy rừng. Dữ liệu điểm cháy và vùng trọng điểm cháy được định hướng tích hợp, chia sẻ với cơ sở dữ liệu về các điểm nóng ô nhiễm không khí, phục vụ cảnh báo sớm và phối hợp xử lý.
Theo kế hoạch, kết quả thực hiện các nhiệm vụ sẽ được tổng hợp, báo cáo Bộ Nông nghiệp và Môi trường trước ngày 15/12 hằng năm; sơ kết vào cuối năm 2027 và tổng kết vào cuối năm 2030.
Việc kết hợp nghiên cứu lựa chọn cây xanh đô thị với kiểm soát các nguồn phát thải cho thấy yêu cầu tiếp cận đồng bộ trong quản lý chất lượng không khí. Để những mục tiêu này phát huy hiệu quả, bên cạnh hoàn thiện cơ sở khoa học và hướng dẫn kỹ thuật, cần chú trọng tổ chức thực hiện, bố trí nguồn lực, giám sát kết quả và gắn trách nhiệm của các cơ quan liên quan với hiệu quả môi trường thực tế.