Sửa Luật Bảo vệ môi trường: Siết hậu kiểm, không để khoảng trống trách nhiệm
Cải cách thủ tục hành chính, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền trong quản lý môi trường là yêu cầu cần thiết. Tuy nhiên, giảm tiền kiểm không đồng nghĩa với giảm trách nhiệm quản lý. Từ yêu cầu của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn khi thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, vấn đề đặt ra là phải nâng cao hiệu quả hậu kiểm, kiểm soát chặt các nguy cơ ô nhiễm và bảo đảm quyền được sống trong môi trường an toàn của người dân.
Giảm thủ tục nhưng không giảm trách nhiệm
Sáng 24/10, thảo luận tại Tổ 2 về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhấn mạnh yêu cầu cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền nhưng phải bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhấn mạnh:“Cắt thủ tục nhưng không cắt trách nhiệm; nới tiền kiểm nhưng phải siết hậu kiểm; phân cấp nhưng không phân tán; không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng đơn thuần”.
Theo Chủ tịch Quốc hội, việc cắt giảm thủ tục phải đi đôi với tăng cường hậu kiểm thực chất; phân cấp quản lý phải gắn với trách nhiệm cụ thể, tránh tình trạng chồng chéo, đùn đẩy hoặc hình thành khoảng trống trong quản lý môi trường.
Đây là vấn đề có ý nghĩa trực tiếp đối với chất lượng thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường. Bởi trên thực tế, hiệu quả quản lý không chỉ phụ thuộc vào quy định trong văn bản pháp luật mà còn được quyết định bởi năng lực kiểm tra, giám sát, phát hiện và xử lý vi phạm trong suốt quá trình triển khai dự án, sản xuất, kinh doanh.
Nếu thủ tục đầu vào được đơn giản hóa nhưng công tác kiểm tra sau cấp phép không được tăng cường tương xứng, nguy cơ vi phạm môi trường có thể không được phát hiện kịp thời. Khi đó, chi phí khắc phục ô nhiễm và những hệ lụy đối với sức khỏe cộng đồng có thể lớn hơn nhiều so với việc kiểm soát rủi ro ngay từ đầu.
Thông điệp được đặt ra là cải cách phải thực chất, nhưng không được biến việc tạo thuận lợi cho đầu tư thành lý do để buông lỏng kiểm soát môi trường.
Không đơn giản hóa những yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe người dân
Một trong những nội dung đáng chú ý tại phiên thảo luận là việc rà soát các tiêu chí xác định đối tượng phải thực hiện đánh giá tác động môi trường (ĐTM). Chủ tịch Quốc hội đề nghị các tiêu chí phải rõ ràng, minh bạch, có khả năng định lượng và phản ánh đúng mức độ tác động của dự án đến môi trường.
Đáng lưu ý, ông bày tỏ băn khoăn về việc lược bỏ các yếu tố như khu dân cư tập trung, nguồn nước cấp sinh hoạt khỏi nhóm yếu tố nhạy cảm về môi trường, đồng thời nhấn mạnh những vấn đề liên quan trực tiếp đến sức khỏe, đời sống người dân không thể bị đơn giản hóa quá mức.
Các đại biểu Quốc hội tham gia thảo luận tại Tổ 2
Yêu cầu này cho thấy việc hoàn thiện pháp luật môi trường cần xuất phát từ thực tiễn, đặc biệt tại những khu vực có mật độ dân cư cao, nơi hoạt động xây dựng, sản xuất, giao thông và xử lý chất thải có thể tác động trực tiếp đến đời sống cộng đồng.
Từ chất lượng không khí, nguồn nước sinh hoạt đến việc thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải, mọi khâu đều cần được kiểm soát bằng các tiêu chí cụ thể và cơ chế giám sát có hiệu quả. Việc công bố dữ liệu quan trắc cũng phải bảo đảm tính chính xác, minh bạch và độ tin cậy, giúp người dân có cơ sở đánh giá chất lượng môi trường nơi mình sinh sống.
Đặc biệt, với các dự án có nguy cơ phát sinh lượng lớn chất thải hoặc chất thải nguy hại, yêu cầu đánh giá, phòng ngừa và kiểm soát rủi ro cần được đặt ra tương xứng với mức độ tác động. Không thể chỉ xem xét hiệu quả kinh tế trước mắt mà xem nhẹ những hệ lụy môi trường có thể kéo dài nhiều năm.
Hậu kiểm phải đi vào thực chất
Đối với đề xuất miễn đánh giá tác động môi trường cho các dự án thứ cấp trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, Chủ tịch Quốc hội cho rằng việc áp dụng chỉ nên được xem xét khi hệ thống hạ tầng xử lý môi trường đã được đầu tư đồng bộ, đáp ứng đầy đủ yêu cầu kỹ thuật. Đồng thời, cần loại trừ những dự án có nguy cơ phát thải lớn, phát sinh chất thải nguy hại hoặc sử dụng phế liệu nhập khẩu.
Đây là yêu cầu quan trọng nhằm bảo đảm việc cải cách thủ tục không làm suy giảm khả năng phòng ngừa ô nhiễm. Hạ tầng xử lý môi trường của khu công nghiệp, cụm công nghiệp phải được đánh giá trên cơ sở năng lực thực tế, không chỉ dừng ở hồ sơ, thiết kế hoặc cam kết của chủ đầu tư.
Cùng với đó, công tác kiểm tra cần gắn với quá trình vận hành của dự án, tập trung vào việc chấp hành các yêu cầu bảo vệ môi trường, khả năng xử lý chất thải và việc khắc phục những tồn tại được phát hiện. Các trường hợp vi phạm phải được xử lý theo quy định, bảo đảm tính răn đe và phòng ngừa.
Chủ tịch Quốc hội cũng lưu ý thực tế có những dự án đã hoàn thành xây dựng, đi vào hoạt động nhưng công trình xử lý nước thải, chất thải và các điều kiện bảo vệ môi trường vẫn chưa được bảo đảm đầy đủ. Điều này đặt ra yêu cầu phải tăng cường kiểm tra thực tế, tránh để tình trạng công trình đi vào vận hành khi các điều kiện môi trường chưa đáp ứng yêu cầu.
Đối với các cơ sở sản xuất có nguy cơ phát thải lớn, trong đó có nhà máy nhiệt điện than, việc kiểm soát công nghệ, xử lý tro, xỉ, bụi và các chất thải phát sinh cần được xem xét xuyên suốt từ giai đoạn đầu tư, xây dựng đến quá trình vận hành.
Hậu kiểm vì thế không thể chỉ là hoạt động kiểm tra mang tính thủ tục hoặc thực hiện theo đợt. Điều cần thiết là cơ chế giám sát có trọng tâm, dựa trên mức độ rủi ro, có khả năng phát hiện sớm vi phạm và xác định rõ trách nhiệm khi xảy ra sự cố môi trường.
Phân cấp phải gắn với người chịu trách nhiệm
Một vấn đề khác được Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh là ô nhiễm môi trường không dừng lại ở địa giới hành chính. Thực tế tại sông Nhuệ và hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải cho thấy yêu cầu cấp thiết phải tăng cường phối hợp giữa các địa phương, đồng thời phân định rõ cơ quan chủ trì và trách nhiệm của từng đơn vị trong xử lý các vấn đề môi trường liên vùng.
Theo Chủ tịch Quốc hội, không nên quy định trách nhiệm chung chung, nhưng cũng không được để xảy ra khoảng trống trách nhiệm trong quản lý môi trường. Ông đề xuất gắn trách nhiệm người đứng đầu với các chỉ tiêu chất lượng môi trường có thể đo lường và được công khai định kỳ.
Để thực hiện yêu cầu này, việc phân cấp cần đi kèm cơ chế phối hợp rõ ràng, quy trình xử lý cụ thể và đầu mối chịu trách nhiệm chính. Khi phát sinh ô nhiễm liên tỉnh hoặc có bất đồng giữa các địa phương về phương án xử lý, thẩm quyền quyết định cuối cùng cũng cần được quy định minh bạch, tránh kéo dài thời gian xử lý và ảnh hưởng đến người dân.
Bên cạnh đó, năng lực thực thi của chính quyền địa phương, nhất là cấp cơ sở, cần được quan tâm tương xứng với nhiệm vụ được giao. Nếu trách nhiệm tăng lên nhưng nhân lực, chuyên môn và điều kiện kiểm tra không đáp ứng yêu cầu, hiệu quả quản lý sẽ khó đạt được như kỳ vọng.
Lấy sức khỏe cộng đồng làm thước đo
Tại phiên thảo luận, Chủ tịch Quốc hội cũng đề cập yêu cầu bảo đảm nguồn lực cho công tác bảo vệ môi trường, nâng cao chất lượng dữ liệu và đánh giá khả năng thực hiện các quy định về kiểm kê khí nhà kính. Theo ông, môi trường không thể chỉ được bố trí kinh phí từ phần ngân sách còn dư; nguồn lực thực hiện phải được tính toán phù hợp với yêu cầu và nhiệm vụ thực tế.
Cùng với thể chế và nguồn lực, ý thức chấp hành pháp luật của doanh nghiệp, trách nhiệm của cơ quan quản lý và sự tham gia giám sát của người dân có vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường.
Từ công trường xây dựng, khu dân cư đến khu công nghiệp, làng nghề, việc tuân thủ quy định về thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải và kiểm soát phát thải cần được thực hiện nghiêm túc. Những phản ánh của người dân về dấu hiệu ô nhiễm cần được tiếp nhận, xác minh và xử lý theo thẩm quyền, thay vì để tồn tại kéo dài mà không xác định rõ trách nhiệm.
Sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường là cơ hội để tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý theo hướng minh bạch, hiệu quả và sát thực tiễn. Tuy nhiên, hiệu quả của chính sách không thể chỉ được đo bằng số lượng thủ tục được cắt giảm hay tốc độ phê duyệt dự án, mà còn phải thể hiện ở khả năng ngăn ngừa ô nhiễm, xử lý vi phạm và cải thiện chất lượng môi trường sống.
Yêu cầu xuyên suốt được đặt ra là cải cách thủ tục phải đi đôi với tăng cường hậu kiểm; phân cấp phải gắn với trách nhiệm cụ thể; dữ liệu phải chính xác, nguồn lực phải được bảo đảm và vi phạm phải được xử lý nghiêm theo quy định.
Phát triển kinh tế là yêu cầu tất yếu, nhưng không thể đánh đổi sức khỏe cộng đồng và chất lượng môi trường sống để lấy tăng trưởng trước mắt. Một cơ chế quản lý môi trường hiệu quả phải bảo đảm rằng mọi dự án, mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh đều được đặt trong khuôn khổ trách nhiệm pháp lý rõ ràng và sự giám sát thực chất.