Định hình hệ sinh thái công nghiệp hàng hải quốc gia
Với gần 3.300 km bờ biển, vùng biển rộng hơn 1 triệu km² và nằm trên các tuyến hàng hải quốc tế trọng yếu kết nối Đông Á với châu Âu, châu Phi và châu Mỹ, Việt Nam sở hữu nhiều lợi thế để phát triển kinh tế biển và dịch vụ logistics. Trong chiến lược phát triển quốc gia, kinh tế biển được xác định là động lực tăng trưởng mới, trong đó việc phát triển đồng bộ các ngành vận tải biển, cảng biển và công nghiệp tàu thủy đóng vai trò quan trọng trong việc định hình hệ sinh thái công nghiệp hàng hải quốc gia trong dài hạn.
Ngành công nghiệp nền tảng của kinh tế biển
Trong bối cảnh kinh tế biển đang trở thành không gian phát triển chiến lược của nhiều quốc gia, công nghiệp tàu thủy giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành năng lực quốc gia trên biển. Một ngành đóng tàu phát triển không chỉ góp phần nâng cao năng lực tự chủ trong thiết kế, chế tạo và sửa chữa phương tiện hoạt động trên biển, mà còn tăng cường khả năng bảo vệ chủ quyền biển đảo, ứng phó thiên tai, cứu hộ cứu nạn và bảo đảm an ninh hàng hải.
Đây cũng là nền tảng để phát triển đội tàu vận tải quốc gia, tàu dịch vụ dầu khí, tàu công trình biển, tàu phục vụ điện gió ngoài khơi và nhiều lĩnh vực kinh tế biển mới.
Tiến sĩ Phạm Hoài Chung, Chủ tịch Hội đồng thành viên Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy (SBIC), cho biết Kết luận số 18-KL/TW của Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV tiếp tục khẳng định vai trò của ngành đóng tàu khi xác định đây là “ngành công nghiệp nền tảng quốc gia”, không chỉ về kinh tế mà còn gắn với công nghiệp hóa, tự chủ công nghệ, logistics và an ninh quốc gia.
Theo ông Phạm Hoài Chung, ngành đóng tàu còn là mắt xích quan trọng trong chuỗi phát triển kinh tế xanh và chuyển đổi năng lượng toàn cầu. Xu hướng phát triển tàu sử dụng nhiên liệu sạch, tàu thông minh, tàu phục vụ điện gió ngoài khơi và các công trình nổi trên biển đang mở ra dư địa phát triển rất lớn cho Việt Nam nếu có chiến lược đầu tư bài bản và dài hạn.
“Vận tải biển đảm nhận khoảng 80-90% lưu lượng thương mại toàn cầu; riêng tại Việt Nam, khoảng 80% khối lượng hàng hóa xuất nhập khẩu được vận chuyển bằng đường biển. Nếu không có đội tàu đủ mạnh và chủ động về năng lực đóng mới, sửa chữa tàu, chuỗi logistics quốc gia sẽ phụ thuộc lớn vào năng lực vận tải nước ngoài, kéo theo chi phí logistics cao và làm suy giảm tính tự chủ của nền kinh tế”, ông Phạm Hoài Chung nhấn mạnh.
Hiện nay, thị trường đóng tàu thế giới có quy mô khoảng 150-180 tỷ USD mỗi năm, tập trung chủ yếu tại Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản. Dự báo đến năm 2030, quy mô thị trường này có thể đạt khoảng 195 tỷ USD. Mặc dù Việt Nam đã hình thành ngành đóng tàu với nhiều tiềm năng, song vị thế trên bản đồ công nghiệp đóng tàu thế giới vẫn chưa thực sự ổn định.
Động lực mới cho tăng trưởng kinh tế
Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức hai con số trong những năm tới, công nghiệp đóng tàu được kỳ vọng trở thành một trong những động lực thúc đẩy tăng trưởng công nghiệp, xuất khẩu, việc làm và năng lực công nghệ quốc gia.
Theo các chuyên gia, ngành đóng tàu có hệ số lan tỏa kinh tế rất cao bởi một con tàu hoàn chỉnh là sự kết tinh của hàng chục ngành công nghiệp hỗ trợ và dịch vụ kỹ thuật khác nhau. Sự phát triển của ngành không chỉ tạo ra số lượng lớn việc làm chất lượng cao mà còn thúc đẩy quá trình chuyển giao công nghệ và nâng cao trình độ lao động.
Về xuất khẩu, đóng tàu là ngành có giá trị gia tăng lớn khi mỗi con tàu đóng mới có thể đạt giá trị từ vài chục đến hàng trăm triệu USD. Việc nâng cao năng lực đóng tàu sẽ góp phần gia tăng nguồn thu ngoại tệ, cải thiện cán cân thương mại và thúc đẩy tăng trưởng GDP.
Giáo sư, Tiến sĩ, Thượng tướng Nguyễn Văn Thành, Phó Chủ tịch chuyên trách Hội đồng Lý luận Trung ương cho rằng, trước yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và thúc đẩy đổi mới sáng tạo, kinh tế biển đang chuyển mạnh sang mô hình phát triển theo chuỗi giá trị, logistics, công nghiệp hỗ trợ và công nghệ cao. Điều này đòi hỏi phải hình thành năng lực công nghiệp tương ứng để phục vụ phát triển kinh tế biển một cách chủ động và bền vững.
Theo ông Nguyễn Văn Thành, xu hướng ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT), dữ liệu lớn (Big Data), tự động hóa và các hệ thống giám sát thông minh đang mở ra cơ hội phát triển hệ sinh thái công nghệ biển hiện đại, hạ tầng dữ liệu biển số và mô hình quản trị biển thông minh.
Nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước luôn dành sự quan tâm đặc biệt đối với phát triển kinh tế biển và các ngành công nghiệp hàng hải, với mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển. Kinh tế biển không chỉ là không gian chiến lược mở rộng dư địa tăng trưởng mà còn góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và bảo đảm chủ quyền biển đảo.
Các chuyên gia kiến nghị Chính phủ sớm xây dựng Chiến lược phát triển đội tàu quốc gia gắn với đơn hàng đóng tàu trong nước, đồng thời ban hành Chiến lược phát triển công nghiệp đóng tàu Việt Nam làm nền tảng cho phát triển dài hạn. Cùng với đó, cần quy hoạch và hình thành các cụm công nghiệp đóng tàu - logistics - cảng biển tại những khu vực có lợi thế nổi trội nhằm giảm chi phí logistics và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Bên cạnh đó, cần có cơ chế, chính sách đặc thù về tài chính, tín dụng, thuế và đất đai để tạo động lực phát triển ngành công nghiệp tàu thủy, từng bước hình thành hệ sinh thái công nghiệp hàng hải quốc gia hiện đại, bền vững và có khả năng cạnh tranh quốc tế.